Dự án tăng cường kết nối cộng đồng phòng chống hiv phía nam

Speeches Shim

Trong những năm gần đây, nguyên nhân lây nhiễm HIV/AIDS chủ yếu ở Việt Nam là lây truyền qua đường tình dục ở nhóm nam quan hệ tình dục đồng giới (MSM) và nữ chuyển giới (TGW). Đây là hai nhóm nguy cơ cao khó tiếp cận do những kỳ thị về HIV và họ thường miễn cưỡng đến các cơ sở y tế công cộng. Dự án tập trung phát hiện những người thuộc nhóm MSM và TGW có nguy cơ cao và khó tiếp cận (thường gọi là các nhóm quần thể đích – KP) tại thành phố Hồ Chí Minh và tỉnh Đồng Nai và kết nối họ với dịch vụ xét nghiệm, điều trị kháng virut (ARV) nếu chẩn đoán dương tính với HIV và điều trị dự phòng trước phơi nhiễm HIV (PrEP) nếu xét nghiệm âm tính với HIV.
 
Các tổ chức cộng đồng (CBO) có tiềm năng cung cấp các dịch vụ phù hợp và hiệu quả đáp ứng nhu cầu của những người có nguy cơ nhiễm và lây truyền HIV. Tuy nhiên, để cung cấp một cách bền vững các dịch vụ liên quan đến HIV tại cộng đồng thì các tổ chức này cần có hỗ trợ để vận hành tổ chức của mình thành công hơn. Dự án giúp các CBO nâng cao năng lực kỹ thuật và vận động chính sách, giúp họ tiếp cận hiệu quả hơn tới nhóm dân số nguy cơ cao và chia sẻ câu chuyện thành công với các cơ quan chính quyền địa phương và các bên liên quan khác.
 
KẾT QUẢ ĐẾN THỜI ĐIỂM HIỆN TẠI
 
Từ tháng 5/2016 đến tháng 12/2020, dự án đã cung cấp dịch vụ dự phòng, chăm sóc và hỗ trợ HIV cho khoảng 80.000 người có nguy cơ cao nhiễm HIV tại thành phố Hồ Chí Minh. Dự án đã phát hiện trên 6.000 ca nhiễm HIV mới và thành công trong việc kết nối hầu hết các ca này tới các dịch vụ chăm sóc và điều trị HIV/AIDS tại thành phố Hồ Chí Minh và tỉnh Đồng Nai. Trong năm tài khóa 2020, dự án đã cung cấp xét nghiệm sàng lọc HIV cho 21.575 khách hàng và chuyển gửi 1.768 ca nhiễm mới đến các dịch vụ điều trị HIV.
 
Trong năm 2020, dự án tập trung vào hoạt động cải thiện chất lượng liên tục đối với các dịch vụ được cung cấp. Hệ thống quản lý dữ liệu đang sử dụng đã được nâng cấp lên ứng dụng trên nền tảng web D-Health với các dữ liệu đầu vào theo thời gian thực do khách hàng và nhân viên chăm sóc của CBO cung cấp. Điều này cho phép dự án và các cán bộ quản lý của các CBO có thể giám sát hiệu quả việc tiếp nhận dịch vụ của khách hàng và hiệu quả hoạt động của chương trình. Khách hàng cũng có thể phản hồi về chất lượng dịch vụ thông qua ứng dụng D-Health. Ngoài ra, dự án đã mở rộng mô hình quan hệ đối tác cộng đồng-khu vực công (C2P) giữa các CBO và các cơ sở y tế tuyến quận/huyện, giúp tăng cường phản hồi hai chiều về việc tiếp nhận dịch vụ và tuân thủ điều trị của khách hàng. Mô hình này tạo thuận lợi cho một cơ chế mà theo đó các nhân viên chăm sóc của CBO, được trang bị các biện pháp phòng chống COVID phù hợp, có thể nhận ARV thay mặt cho những bệnh nhân bị tổn thương miễn dịch để giảm nguy cơ phơi nhiễm COVID tiềm ẩn của bệnh nhân, đảm bảo cung cấp thuốc và điều trị liên tục.
 
Cuối cùng, dự án không chỉ tạo ra một môi trường thuận lợi hơn cho hoạt động của các CBO mà còn hỗ trợ nâng cao năng lực nhằm hướng tới tự lực cho các tổ chức này thông qua tập huấn về phát triển dự án và huy động nguồn lực. Trong năm tài khóa 2020, 6 tổ chức CBO đã huy động thành công nguồn tài chính khác, ngoài hỗ trợ của USAID, để mở rộng hoạt động.
Issuing Country 
Date 
01-03-2021 05:00

Last updated: March 01, 2021